Giáo dụcLớp 12

Cảm nhận tâm trạng của nhân vật Tràng liên hệ với tâm trạng Chí Phèo

Cảm nhận tâm trạng của nhân vật Tràng liên hệ với tâm trạng Chí Phèo

Cảm nhận tâm trạng của nhân vật Tràng liên hệ với tâm trạng Chí Phèo bao gồm dàn ý hướng dẫn chi tiết và những bài văn mẫu hay giúp các em nắm vững kiến thức và làm bài tốt hơn.

Bài viết giúp các em định hướng đúng nội dung cho bài phân tích, có những cơ sở luận điểm để phát triển thành bài văn hoàn chỉnh cho riêng mình. Các em có thể tự ôn bài ở nhà và chuẩn bị kiến thức để bước vào các kì thi quan trọng trong đó có kì thi THPT Quốc gia. Mời các em tham khảo.

Cảm nhận tâm trạng nhân vật Tràng liên hệ Chí Phèo

Bạn đang xem: Cảm nhận tâm trạng của nhân vật Tràng liên hệ với tâm trạng Chí Phèo

Dàn ý chi tiết cảm nhận nhân vật Tràng liên hệ Chí Phèo

I. Mở bài:

Nêu vấn đề của đề bài

– Giới thiệu đôi nét về nhà văn Kim Lân và tác phẩm “Vợ Nhặt”; giới thiệu khái quát về nhân vật Tràng trong tác phẩm (đặc biệt được thể hiện qua đoạn trích của đề bài).

– Từ đoạn trích trên, giúp liên hệ đến tâm trạng của Chí Phèo sau đêm gặp Thị Nở trong tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao (Ngữ văn 11).

– Qua việc khắc họa 2 nhân vật; ta thấy được sự thành công của hai nhà văn trong nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật.

II. Thân bài:

Triển khai vấn đề

1. Cảm nhận về tâm trạng nhân vật Tràng

– Tràng sung sướng, hạnh phúc, hãnh diện: thấy “trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”, việc có vợ đối với hắn vẫn hết sức bất ngờ.

– Tràng nhận ra sự thay đổi xung quanh khiến anh cảm động: “có cái gì vừa thay đổi mới lạ”: “Nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ gọn gàng. Mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khươm mươi niên ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong. Hai cái ang nước vẫn để khô cong ở dưới gốc cây ổi đã kín nước đầy ăm ắp”, bà cụ Tứ lúi húi giẫy cỏ, nàng dâu quét tước, nấu nướng. Tất cả những cảnh tượng đó thật bình thường nhưng đủ làm cho hắn cảm động vì chưa bao giờ Tràng được trải qua niềm hạnh phúc giản dị như thế.

– Tràng có sự thay đổi trong suy nghĩ: yêu thương, gắn bó với gia đình; thấy có trách nhiệm phải lo lắng cho vợ con; và ngời lên niềm tin vào tương lai tươi sáng. Tràng thấy cuộc đời mình bỗng nhiên thay đổi hẳn, hắn thấy mình trưởng thành (“nên người”) và cần có trách nhiệm với gia đình của mình:

“Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng”. Bởi vì Tràng đã có một gia đình, và trong cái buổi sáng đầu tiên ấy, hắn đã được tắm mình trong không khí ấm áp, hạnh phúc của tổ ấm gia đình.

=> Tác giả đã đặt nhân vật vào tình huống độc đáo để nhân vật bộc lộ phẩm chất, tính cách; Miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, đậm chất nông thôn và có sự gia công sáng tạo của nhà văn. Cách kể chuyện tự nhiên, hấp dẫn, dựng cảnh sinh động với nhiều chi tiết đặc sắc…

2. Liên hệ tâm trạng của Chí Phèo sau đêm gặp Thị Nở để thấy sự thành công của hai nhà văn trong nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật

– Tâm trạng của nhân vật Chí Phèo sau đêm gặp Thị Nở được thể hiện tập trung trong buổi sáng tỉnh rượu của Chí. Nam Cao khắc họa rất thành công chuỗi diễn biến tâm lí của Chí Phèo:

+ Cảm nhận cuộc sống đời thường (lần đầu tiên sau một cơn say dài, Chí cảm nhận được những hình ảnh quen thuộc và lắng nghe rõ nhất những âm thanh cuộc sống xung quanh mình);

+ Hắn nhớ lại quá khứ xa xôi, thấm thía cuộc sống hiện tại, lo lắng cho tương lai cô độc, buồn tủi;

+ Khi được Thị Nở cho ăn cháo hành thì hắn ngạc nhiên, cảm động, ăn năn hối hận, tủi thân khi lần đầu tiên được cho bởi một người đàn bà; rồi hắn vui, khao khát được trở lại cuộc đời lương thiện, hi vọng, tin tưởng được trở lại cuộc đời hoàn lương.

– Điểm giống nhau:

+ Cả Nam Cao và Kim Lân đều rất quan tâm đến đời sống tâm hồn của những người lao động nghèo Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Hai nhà văn đều mô tả chi tiết, chân thực, sinh động diễn biến tâm trạng của mỗi nhân vật ở thời điểm buổi sáng – gắn liền với sự thức tỉnh/ đổi thay của mỗi nhân vật – thông qua cảm xúc và dòng ý nghĩ.

+ Có khi các nhà văn khách quan kể lại diễn biến đó nhưng cũng có khi Nam Cao và Kim Lân nhập thân vào nhân vật, trần thuật lại diễn biến tâm trạng thông qua lời văn nửa trực tiếp. Tài năng miêu tả tâm lí nhân vật của mỗi nhà văn không chỉ giúp cho các nhân vật nổi hình nổi sắc mà còn giúp các nhà văn thể hiện sâu sắc tình cảm nhân đạo của mình.

– Điểm khác nhau:

+ Qua diễn biến tâm trạng của Chí Phèo sau buổi sáng gặp Thị Nở, ta thấy đó là tâm trạng của con người đang đứng trước bi kịch của đời mình; Chí Phèo “lần đầu tiên thức tỉnh” sau một cơn say dài – nhận thức sự bần cùng hóa dẫn đến tha hóa, lưu manh hóa của bản thân và khát khao muốn quay lại cuộc sống lương thiện; qua đó nhà văn Nam Cao thể hiện tin tưởng vào sự thức tỉnh lương tâm của người nông dân trước cách mạng.

+ Trong đoạn trích của “Vợ nhặt”, cùng tả tâm trạng nhân vật vào buổi sáng, Kim Lân đã phát hiện ra sự thay đổi và trưởng thành trong nhận thức, tình cảm và hành động của nhân vật Tràng. Nó không phải quá đột ngột bất ngờ mà nó là một lát cắt trong chuỗi diễn biến tâm trạng đầy ngạc nhiên, có sự thay đổi dần dần của Tràng từ lúc “nhặt” được vợ cho đến cuối truyện.

=> Qua đó, tác giả có cái nhìn trân trọng, ca ngợi người nông dân dù trong hoàn cảnh hết sức bi đát vẫn có ý thức xây dựng hạnh phúc gia đình. Nhân vật Chí Phèo tuy thức tỉnh để khao khát hoàn lương như cuối cùng rơi vào bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người, còn nhân vật Tràng cuối cùng đã được đổi đời, tìm thấy hạnh phúc đích thực của cuộc đời…

III. Kết bài:

– Đánh giá khái quát vấn đề: Qua hai đoạn trích đều thể hiện tài năng khắc họa nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của hai nhà văn; qua đó cũng góp phần thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc.

Bài văn cảm nhận hay về tâm trạng nhân vật Tràng sau khi lấy Thị về làm vợ

“Vợ Nhặt” là truyện ngắn được trích trong tập truyện “Xóm ngụ cư” của nhà văn Kim Lân. Câu truyện kể về nhân vật anh cu Tràng một người nông dân hiền lành chất phác trong nghịch cảnh lại có được hạnh phúc lứa đôi. Không chỉ xây dựng nhân vật thành công qua nét tính cách và ngoại hình, Kim Lân còn khắc họa rất thành công diễn biến tâm trạng của nhân vật này.

Vợ Nhặt được lấy bối cảnh từ nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu 1945 khi mà đất nước ta có đến 2 triệu người chết đói. Nhân dân ta chịu cảnh áp bức một cổ hai tròng. Ở miền Bắc, phát xít Nhật bắt dân ta phải nhổ lúa trồng đay. Thực dân Pháp thì ra sức vơ vét thóc gạo của người nông dân. Hậu quả là đến cuối năm 1945, người dân rơi vào thảm cảnh bi thương khi hàng triệu người bị chết đói. Đây được xem là nạn đói lớn nhất trong lịch sử. Nhưng kỳ lạ thay ngay cả trong hoàn cảnh đói khát tăm tối nhất khi người ta cận kề bên miệng vực của cái chết thì những con người lao động Việt Nam vẫn lạc quan hướng về tương lai hạnh phúc hơn.

Nhân vật Tràng trong truyện ngắn được miêu tả là một gã trai nghèo khổ. Nghèo đến tột cùng cái nghèo đấy được thể hiện qua “chiếc áo nâu tang”, ngôi nhà thì “vắng teo đứng rúm ró bên mảnh vườn mọc lổm nhổm những búi cỏ dại”. Và Tràng chỉ là một gã kéo xe bò thuê. Đến cái tên của hắn cũng thể hiện sự thô kệch nghèo khó. Ngòi bút của Kim Lân đã khắc họa nhân hình của Tràng một cách rất sống động: “hai mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra”. Bộ mặt thô kệch, thân hình to lớn, vạm vỡ, cái đầu thì trọc lốc…Dưới ngòi bút của Kim Lân, hắn chỉ như một bức chân dung vẽ vội một hình hài được tạo hóa đẽo gọt quá ư sơ sài, cẩu thả. Không chỉ xấu xí mà cái sự nghèo khổ còn khiến cho hắn bị dở tính có tật “vừa đi vừa nói”. Hắn hay “lảm nhảm than thở những điều hắn nghĩ” thỉnh thoảng còn “ngửa mặt lên trời cười hềnh hệch”.

Trong cái cơn thóc cao gạo kém đó, một người vừa xấu xí lại nghèo như Tràng không ai có thể hình dung được là hắn có thể có vợ. Mà hoàn cảnh lấy được vợ cũng hết sức thú vị. Hắn nhặt được vợ trên đường đi đẩy xe bò chở thóc về nhà. Thị đã theo hắn về nhà sau lời mời chào tưởng như bông đùa và bốn bát bánh đúc ở chợ huyện.

Kim Lân đã dành rất nhiều trường đoạn để miêu tả diễn biến của nhân vật Tràng sau khi nhặt được vợ. Đầu tiên khi nghe những lời hàng xóm xì xầm, bàn tán chê bai: ”chao ôi, thời buổi nào còn rước cái của nợ ấy về, có nuôi nổi nhau sống qua ngày không?”. Nhưng Tràng nghe thấy thế cũng chỉ “Chậc. Kệ” giờ đây hắn chỉ còn “tình nghĩa với người đàn bà đi kế bên”. Hắn tủm tỉm cười hai mắt sáng lấp lánh mơ về niềm hạnh phúc tương lai.

Buổi sáng hôm sau khi Tràng thức dậy tâm trạng của hắn thực sự thay đổi. Niềm vui lâng lâng trong người khi hắn nhìn thấy nhà cửa dọn sạch sẽ tinh tươm. Mẹ hắn đang nhổ cỏ vườn. Vợ đang quét sân tiếng chổi vang lên đều đều. Bỗng nhiên, hắn cảm thấy yêu thương gắn bó với cái nhà của hắn một cách lạ lùng. Thế là từ đây hắn đã có một gia đình, hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đây. Cái nhà sẽ trở thành nơi che mưa che nắng cho vợ chồng hắn. Một nguồn sung sướng và phấn chấn dâng lên trong lòng Tràng. Lúc này, Tràng cũng biết bổn phận của người đàn ông trong gia đình cần lo lắng cho vợ. Hắn cũng chạy xăm xăm ra giữa sân và tham dự vào một phần giúp tu sửa căn nhà. Chỉ trong một đoạn văn ngắn ngủi mà Kim Lân đã lột tả được tâm trạng của nhân vật Tràng. Từ bất ngờ, bỡ ngỡ cho đến hạnh phúc tột cùng khi biết mình đã có gia đình.

Thông qua đoạn trích trên ta thấy nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật đặc sắc của nhà văn Kim Lân. Với những ngôn từ mộc mạc, giản dị dậm chất nông thôn có thêm sự gia công sáng tạo của nhà văn. Cùng lối kể truyện hấp dẫn sinh động giúp chúng ta hiểu thêm phần nào về nhân vật anh cu Tràng. Một người nông dân tuy sống trong hoàn cảnh nghèo khó, khổ cực nhưng chưa bao giờ từ bỏ mơ ước về một cuộc sống hạnh phúc sau này. Đó chính là tư tưởng nhân đạo được nhà văn khéo léo lồng ghép vào trong tác phẩm.

Bài văn liên hệ nhân vật Tràng với Chí Phèo ấn tượng mẫu 2

Tôi định viết một số truyện ngắn những ý khác là khi đói người ta không nghĩ đến con đường chết mà chỉ nghĩ đến con đường sống. Dù ở trong tình huống bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết vẫn khát khao hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hy vọng ở tương lai, vẫn muốn sống, sống cho ra người”. Đây là lời tự sự của chính tác giả truyện ngắn Vợ nhặt – nhà văn Kim Lân – người một lòng đi về với vẻ đẹp thuần hậu nguyên thủy làng quê khuất lấp sau dãy tre làng. Truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân để lại ấn tượng trong lòng bạn đọc không chỉ bởi thông điệp giàu ý nghĩa mà còn bởi giá trị tinh thần và giá trị giáo dục giàu có của thiên truyện này. Truyện được lấy cảm hứng và viết từ nạn đói năm 1945. Sau đó, bị mất bản thảo nhưng khi hòa bình lập lại (1954), ông dựa vào cốt truyện cũ viết nên truyện ngắn này và in trong tập Con chó xấu xí.

Cốt truyện xoay quanh ba nhân vật là Tràng, bà cụ Tứ (mẹ Tràng) và Thị – người vợ nhặt (vợ Tràng). Nhân vật nào cũng đều là hiện thân của những người nông dân trong nạn đói năm ấy, khốn khổ, đói rách. Hoàn cảnh nạn đói ấy đã ảnh hưởng sâu sắc đến ngoại hình và tính cách của họ. Tuy nhiên, được sống trong tình thương của gia đình, của tình người, những phẩm chất tốt đẹp tiềm ẩn trong họ mới lộ thiên.

Cùng với người vợ nhặt, nhân vật Tràng là một con người với hai phương diện tính cách đối lập như thế khi được sống trong những hoàn cảnh khác nhau “một gã trai quê nông nổi, liều lĩnh nhưng lại đầy khát khao và tốt bụng”. “Nông nổi” là bồng bột, thiếu cân nhắc suy nghĩ trước khi hành động, “liều lĩnh” là hành động mà không nghĩ đến hậu quả tai hại có thể xảy ra. “Khao khát” là muốn có một cuộc sống hạnh phúc như bao người, “tốt bụng” có lòng tốt, thương người và sẵn sàng giúp đỡ người khác. Đó là hai mặt tính cách đối lập do hoàn cảnh sống tạo ra. Tuy hai tính cách có đối lập nhau nhưng chúng lại bổ sung cho nhau để hoàn thiện nhân vật Tràng trong tác phẩm.

Tràng là dân ngụ cư, cuộc sống chịu thiệt thòi. Vì mưu sinh, họ phải tha hương cầu thực nơi đất khách quê người. Ở đây, để tồn tại, họ phải bưng mặt đi làm thuê, làm mướn cho những người có quyền thế, có tiền của. Họ còn phải chịu cái nhìn ghẻ lạnh, khinh miệt từ người dân địa phương. Tràng làm nghề đẩy xe thóc thuê cho Liên đoàn Nhật. Một nghề bấp bênh, ngắn hạn không ổn định. Tràng sống cùng người mẹ già trong một ngôi nhà “rúm ró” nằm trong một mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại, xiêu vẹo, tối tăm, sống đời “mẹ quá, con côi” cơ cực cùng bà mẹ già.

Trong cái nạn đói năm ấy, người đói chết thây chất đầy đường, thiếu ăn đến độ phải ăn rễ cây mà sống, có được bát cháo cám mà húp thôi đã là một ân huệ rất lớn. Gia đình Tràng cũng chẳng ngoại lệ, cuộc sống bấp bênh khi tương lai của mình còn lo chưa xong, ở nhà “gạo chỉ đếm bằng hạt”. Thế nhưng, chỉ với hai lần gặp gỡ người đàn bà xa lạ trong hai lần kéo xe bò lên tỉnh, Tràng đã sẵn sàng đãi người đàn bà ấy bốn bát bánh đúc, cho không, biếu không Thị mấy cái thúng con,… Thế thì có nông nỗi không?

Không chỉ thế, trong tình cảnh “đến cái thân mình còn lo chưa xong” mà Tràng lại dẫn Thị về nhà, thêm một miệng ăn là thêm một “cơ hội” chết đói. Tính mạng mình mà cũng không màng, thế có phải là liều lĩnh không? Lý giải cho hành động nông nỗi, liều lĩnh này, phải kể đến tài năng của nhà văn Kim Lân.

Kim Lân đã rất thành công trong việc phác họa được một anh nông dân đúng bản chất khù khờ, hiền lành và chất phác. Nếu hiểu Tràng là người đầy khát khao và tốt bụng thì chẳng có gì nhân văn cả. Vậy Tràng bao dung, thương người? Chính cái tính hồn nhiên, vô tư ấy là bước đệm, là nền tảng tạo dựng hạnh phúc cho Tràng sau này. Cái tính tốt bụng bắt đầu từ khi gặp người đàn bà xa lạ, khi chưa có danh phận gì với nhau cả, chỉ là người lạ gặp qua đường. Anh đã cho đi, để rồi anh đã nhận lại thứ quý giá nhiều hơn thế.

Tràng tốt bụng nhưng khao khát có vợ của Tràng rất mãnh liệt, dẫu trong vài chi tiết hé lộ khá kín đáo, nhà văn đã cho bạn đọc thấy được điều đó: Trong lần thứ nhất, Tràng đẩy xe bò lên tỉnh gặp Thị, Tràng hò một câu tưởng tình cờ cho đỡ mệt nhưng thật ra lại đầy tình ý:

Muốn ăn cơm trắng mấy giò này

Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì

Khi Thị nhận lời, Tràng thích lắm. “Từ cha sinh mẹ đẻ đến giờ, chưa có người con gái nào cười với hắn tình tứ như thế”. Rồi cả trong câu nói vu vơ nhưng đầy tình thương và thành ý: “Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về”.

Nhà văn Kim Lân muốn nhấn mạnh với bạn đọc điều gì qua khát vọng hạnh phúc gia đình của Tràng? Là dù trong hoàn cảnh nghèo đói cơ cực hay thậm chí là cái chết đang chờ đón trước mắt thì khao khát hạnh phúc của con người vẫn luôn dạt dào, mãnh liệt. Tình người, hạnh phúc luôn mang đến những điều kỳ diệu, tươi đẹp cho cuộc sống để con người cảm thấy muốn sống, sống đẹp hơn trong những ngày cằn cỗi, khắc nghiệt. Chính điều đó đã làm cái vẻ xấu xí, thô kệch của Tràng bị lấn át bởi vẻ đẹp tỏa sáng tự bên trong.

Những ấn tượng còn lại về Tràng: Anh là một con người bao dung, ấm áp và đầy tình yêu thương. Ngoài vườn mẹ đang lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở. Vợ hắn quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất. Cảnh tượng thật đơn giản, bình thường nhưng đối với hắn lại rất thấm thía cảm động. Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Và nghĩ về tương lai tươi sáng sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này.

Cuối tác phẩm, Tràng nghĩ về “đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới” làm người đọc hình dung ra rằng khát khao hạnh phúc mãnh liệt tương lai tươi sáng vẫn đang bùng cháy le lói trong tâm hồn của Tràng. Với ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, đậm chất nông dân được chắt lọc kỹ lưỡng giàu sức gợi, xây dựng tình huống truyện độc đáo, miêu tả tâm lý nhân vật hấp dẫn sinh động. Nhà văn Kim Lân đã xây dựng thành công nhân vật Tràng: “một gã trai quê nông nổi, liều lĩnh nhưng vừa lại đầy khát khao và tốt bụng” như ý kiến ở đề bài đã đánh giá.

Cùng viết về đề tài người nông dân nghèo vùng nông thôn, phải chịu nhiều thiệt thòi, sống cơ cực, lầm than dưới chế độ phong kiến, thực dân, Nam Cao đã gây được tiếng vang lớn với hình tượng điển hình Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên ra đời năm 1941, tức trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Chí là một người hiền hậu, chất phác được dân làng Vũ Đại cưu mang. Anh cũng ước mơ có một cuộc sống bình dị như bao người “một cuộc sống nho nhỏi, chồng cày thuê, vợ dệt vải”. Chỉ vì cường quyền của chế độ phong kiến khi chưa có Đảng lãnh đạo mà đứa con tinh thần của tác phẩm đã bị chà đạp không thương tiếc. Chí Phèo là nhân vật điển hình cho người nông dân bần cùng dẫn đến lưu manh hóa – quy luật có tính phổ biến trong xã hội trước Cách mạng. Còn Tràng lại tiêu biểu cho người nông dân vùng nông thôn trong nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu (1945). Nhìn chung, số phận của Chí Phèo đáng thương, đau khổ hơn Tràng: bị cự tuyệt quyền làm người.

Ngoài những yếu tố chi phối như đề tài, cảm hứng, phong cách, quan niệm nghệ thuật, tư tưởng, khuynh hướng sáng tác của mỗi nhà văn có khác nhau thì có lẽ bối cảnh ra đời của hai tác phẩm là yếu tố quyết định đến sự khác nhau trong số phận của hai người nông dân này.

Tác phẩm Chí Phèo ra đời trước Cách mạng tháng Tám, đồng nghĩa với việc số phận và cuộc đời người nông dân hoàn toàn bế tắc, không lối thoát. Không phải vậy mà Chí Phèo với bản chất vốn lương thiện đã không thể tồn tại trong xã hội ấy đó sao? Anh phải tìm đến cái chết để được làm người… lương thiện.

Còn với Vợ nhặt thì khác, dù lấy bối cảnh là nạn đói năm Ất Dậu (1945) nhưng tác phẩm được viết lại vào năm 1955, tức sau Cách mạng tháng Tám. Văn học thời kỳ này phải gắn liền và phục sự cho sự nghiệp cách mạng. Do vậy, số phận của người nông dân, mà chủ yếu qua nhân vật Tràng có nhiều điểm khác biệt: Có lối thoát với kết thúc có hậu.

Với Tràng, nhà văn Kim Lân đã xây dựng được một người nông dân với những nét phẩm chất, tính cách, trí tuệ, ngôn ngữ tiêu biểu cho người nông dân Việt Nam. Với Chí Phèo, Nam Cao đã xây dựng được một nhân vật điển hình cho một tầng lớp của xã hội. Đặc biệt, thông qua hai nhân vật này, người đọc cảm nhận được tấm lòng nhân đạo cũng như sự nhìn nhận đa chiều để trân trọng vẻ đẹp con người của hai nhà văn.

(Bài làm của bạn Lâm Ngọc Tú, THPT Lê Quý Đôn, TP Bà Rịa – Vũng Tàu)

Bài văn liên hệ nhân vật Tràng với Chí Phèo ấn tượng mẫu 3

Nam Cao là nhà văn hiện thực xuất sắc tràn đầy tinh thần nhân đạo. Sáng tác trước cách mạng của ông xoay quanh hai đề tài chính là nông dân nghèo và trí thức nghèo. Truyện ngắn “Chí Phèo” là kiệt tác của Nam Cao, thể hiện rõ phong cách nghệ thuật của ông. Kim Lân là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn xuôi hiện đại Việt Nam. Ông là một cây bút viết truyện ngắn tài hoa. Thế giới nghệ thuật của Kim Lân chủ yếu tập trung ở khung cảnh nông thôn và hình tượng người nông dân. “Vợ nhặt” là một trong những tác phẩm xuất sắc của Kim Lân, in trong tập “Con chó xấu xí”. Qua việc khắc họa hai nhân vật trong hai đoạn trích trên, ta thấy được sự thành công của hai nhà văn trong nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật.

Sau cuộc gặp gỡ tình cờ của Chí Phèo với thị Nở, Chí Phèo lần đầu tiên tỉnh rượu. Chí đã tỉnh rượu sau một cơn say rất dài. Trước đó Chí đã là tay sai cho kẻ thống trị nham hiểm – Bá Kiến. Bá Kiến lợi dụng Chí Phèo để trừ khử những phe cánh đối nghịch, gây ra bao tội ác với dân làng mà yếu tố hỗ trợ cho Chí là rượu. Vì thế đời Chí là một cơn say dài mênh mông. Cơn say đã lấy mất của hắn già nửa cuộc đời, đẩy hắn vào kiếp sống thú vật tăm tối.

Sau khi tỉnh rượu, Chí nhận ra và cảm nhận được những thanh âm của cuộc sống: “tiếng chim hót, tiếng anh thuyền chài đuổi cá, tiếng mấy bà đi chợ bán vải về”. Đó là âm thanh vang vọng của cuộc sống thường nhật. Những âm thanh ấy chính là tiếng gọi thiết tha của cuộc sống và đã lay động sâu xa tâm hồn Chí Phèo. Âm thanh ấy như cơn mưa rào mùa hạ, như dòng suối ngọt ngào đổ vào tâm hồn quỷ dữ và thức dậy cả một trời ký ức tươi đẹp. Âm thanh ấy nhắc cho hắn nhớ đến một tuổi trẻ từng mơ ước “một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ ở nhà dệt vải…”.

Âm thanh ấy cũng đánh thức hiện tại đầy cay đắng. Hắn không nhớ mình năm nay bao nhiêu tuổi; chỉ biết đã qua bên kia con dốc của cuộc đời. Hắn nhận ra hiện tại đã già mà vẫn còn cô độc. Nghĩ đến tương lai, hắn chạnh lòng vì phải đối mặt với một “đói rét, ốm đau và cô độc, cô độc, còn sợ hơn cả đói rét và ốm đau”. Khi ý thức được hiện tại, đoán biết được tương lai, Chí không còn là quỷ dữ nữa mà đã trở lại năng lực làm người.

Khi thấy bát cháo hành của Thị Nở, Chí Phèo ngạc nhiên và thấy “mắt mình như ươn ướt”. Hắn xúc động vì lần đầu tiên được chăm sóc, lại là sự chăm sóc của một người đàn bà. Và cũng bởi vì đây là lần đầu Chí được bàn tay của một người đàn bà cho. Hắn nhận ra bát cháo hành mà hắn đón lấy là “cái cho” đầu tiên của cuộc đời, vì xưa nay muốn có cái ăn, hắn phải rạch mặt ăn vạ. Điều ấy khiến Chí chạnh lòng nhận ra bi kịch của đời mình.

Chí cảm nhận về cháo hành như cảm nhận về tình người, tình yêu thương mà bây giờ hắn mới nhận ra. Hắn nhận ra “cháo hành ăn rất ngon” nhưng cũng tự hỏi “sao đến bây giờ mới được ăn”; rồi lại tự trả lời “có ai nấu cho mà ăn đâu”. Phút giây ấy, người đọc có thể hình dung ra tình cảnh thê thảm của Chí: không người thân, không kẻ thương, Chí cô độc đến tuyệt đối giữa làng Vũ Đại. Như vậy, bát cháo hành chính là liều thuốc giải độc, là bát cháo của tình yêu thương, của tình người. Thầy Phan Danh Hiếu. Hương vị cháo hành còn là hương vị của tình yêu mà lần đầu Chí cảm nhận được. Nếu như ban đầu, người đàn bà xấu xí, quá lứa lỡ thì, lại dở hơi ấy chỉ khơi lại cái bản năng ở Chí Phèo thì sau đó điều kì diệu đã xảy ra, sự săn sóc đầy ân tình và yêu thương mộc mạc của thị Nở đã làm thức dậy bản chất lương thiện tiềm ẩn trong con người Chí Phèo. Chính bàn tay chăm sóc ân cần của thị Nở và hương vị của cháo hành đã xoa dịu trái tim con quỷ dữ và thức dậy bản tính người, thức dậy thiên lương trong sâu thẳm con người của Chí. Sức mạnh của tình yêu thương đã lan tỏa từ bát cháo hành, xông đến tận cùng thớ não và tim gan của Chí, đưa hắn ra khỏi vùng tối của cuộc đời, mang hắn đến bến bờ thiên lương. Trái tim đầy tổn thương của hắn phải chăng đã được vá lại từ tình yêu thương của thị Nở.

Nếu lúc trước Chí say và ngã vào Thị vì Chí không biết rằng người đàn bà ấy vừa dở hơi vừa xấu xí, xấu đến mức ma chê quỷ hờn. Nhưng lúc này, khi hoàn toàn tỉnh táo, Chí không những chấp nhận thị mà còn yêu thị. Bởi chỉ có tình yêu mới khiến con người ta thấy xấu cũng thành đẹp. Và Chí say thị thật. Đàn bà không có men như rượu nhưng cũng có thể làm người ta say. Chí thấy thị có duyên lắm. Vậy là Chí tỉnh, hắn đâu có say. Chính vì Chí tỉnh nên hắn mới cảm nhận được những hương vị của cuộc sống, của tình yêu. Những chi tiết này cho ta khám phá ra thêm một đức tính nữa của Chí. Đó là tính thiện – Nam Cao tin rằng: lương thiện là thứ không bao giờ mất đi ở người nông dân. Đó là tấm lòng nhân đạo cao cả của nhà văn dành cho nhân vật.

Đã có lúc, Chí hồn nhiên, hắn thấy lòng thành trẻ con, muốn làm nũng với Thị như làm nũng với mẹ. Ý nghĩ hồn nhiên ấy khiến Chí như trẻ lại. Còn người đọc nhận ra một điều chua chát: Chí không có mẹ, hắn chưa bao giờ được nhận sự yêu thương từ mẹ. Bởi thế thị đối với hắn như người ban ơn vậy. Rồi hắn khao khát hạnh phúc. Tình yêu với Thị Nở khiến hắn đủ hi vọng và mong ước có một gia đình: “Giá cứ như thế này mãi thì thích nhỉ”; “Hay là mình sang ở với tớ một nhà cho vui”. Thầy Phan Danh Hiếu. Rồi hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người. Chí không còn là kẻ rạch mặt ăn vạ nữa, không còn là con quỷ dữ nữa. Hắn thực sự đã trở lại làm người với hai chữ “con người” đúng nghĩa. Như vậy, thị Nở chính là “thiên thần” của Chí. Thị không có đôi cánh tình yêu như trong thần thoại nhưng lại ấm nóng như lửa và mạnh mẽ như gió. Nếu là gió, thị sẽ thổi tung đám tàn tro nguội lạnh vây quanh cuộc đời của Chí. Nếu là lửa, lửa sẽ đốt bỏ lớp vỏ quỷ dữ để trả lại cho anh hình hài của một con người.

Gặp thị Nở, Chí Phèo đã trải qua những cảm xúc chưa hề có trong đời, mang đến niềm vui, niềm hi vọng và mong ước trở về làm người lương thiện trỗi dậy. Chí khát khao trở lại tháng ngày tươi đẹp. Và thị Nở sẽ là chiếc cầu nối đưa hắn trở về xã hội loài người nhưng niềm mong mỏi ấy đã bị chặn đứng bởi định kiến của bà cô, mà cũng là của xã hội ấy.

Buổi sáng đầu tiên sau khi có vợ, Tràng có nhiều thay đổi. Tràng sung sướng, hạnh phúc, hãnh diện: thấy “trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”, việc có vợ đối với hắn vẫn hết sức bất ngờ. Tràng nhận ra sự thay đổi xung quanh khiến anh cảm động: “có cái gì vừa thay đổi mới lạ”: “Nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ gọn gàng. Mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khươm mươi niên ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong. Hai cái ang nước vẫn để khô cong ở dưới gốc cây ổi đã kín nước đầy ăm ắp”, bà cụ Tứ lúi húi giẫy cỏ, nàng dâu quét tước, nấu nướng. Tất cả những cảnh tượng đó thật bình thường nhưng đủ làm cho hắn cảm động vì chưa bao giờ Tràng được trải qua niềm hạnh phúc giản dị như thế.

Tràng có sự thay đổi trong suy nghĩ: yêu thương, gắn bó với gia đình; thấy có trách nhiệm phải lo lắng cho vợ con; và ngời lên niềm tin vào tương lai tươi sáng. Tràng thấy cuộc đời mình bỗng nhiên thay đổi hẳn, hắn thấy mình trưởng thành (“nên người”) và cần có trách nhiệm với gia đình của mình:

“Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng”. Bởi vì Tràng đã có một gia đình, và trong cái buổi sáng đầu tiên ấy, hắn đã được tắm mình trong không khí ấm áp, hạnh phúc của tổ ấm gia đình.

Tác giả đã đặt nhân vật vào tình huống độc đáo để nhân vật bộc lộ phẩm chất, tính cách; Miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, đậm chất nông thôn và có sự gia công sáng tạo của nhà văn. Cách kể chuyện tự nhiên, hấp dẫn, dựng cảnh sinh động với nhiều chi tiết đặc sắc…

Như vậy, qua phân tích diễn biến tâm trạng của Chí và Tràng ta thấy được cả Nam Cao và Kim Lân đều rất quan tâm đến đời sống tâm hồn của những người lao động nghèo Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Hai nhà văn đều mô tả chi tiết, chân thực, sinh động diễn biến tâm trạng của mỗi nhân vật ở thời điểm buổi sáng – gắn liền với sự thức tỉnh/ đổi thay của mỗi nhân vật – thông qua cảm xúc và dòng ý nghĩ.

Có khi các nhà văn khách quan kể lại diễn biến đó nhưng cũng có khi Nam Cao và Kim Lân nhập thân vào nhân vật, trần thuật lại diễn biến tâm trạng thông qua lời văn nửa trực tiếp. Tài năng miêu tả tâm lí nhân vật của mỗi nhà văn không chỉ giúp cho các nhân vật nổi hình nổi sắc mà còn giúp các nhà văn thể hiện sâu sắc tình cảm nhân đạo của mình.

Ngoài những yếu tố chi phối như đề tài, cảm hứng, phong cách, quan niệm nghệ thuật, tư tưởng, khuynh hướng sáng tác của mỗi nhà văn có khác nhau thì có lẽ bối cảnh ra đời của hai tác phẩm là yếu tố quyết định đến sự khác nhau trong số phận của hai người nông dân này.

Qua diễn biến tâm trạng của Chí Phèo sau buổi sáng gặp Thị Nở, ta thấy đó là tâm trạng của con người đang đứng trước bi kịch của đời mình; Chí Phèo “lần đầu tiên thức tỉnh” sau một cơn say dài – nhận thức sự bần cùng hóa dẫn đến tha hóa, lưu manh hóa của bản thân và khát khao muốn quay lại cuộc sống lương thiện; qua đó nhà văn Nam Cao thể hiện tin tưởng vào sự thức tỉnh lương tâm của người nông dân trước cách mạng.

Trong đoạn trích của “Vợ nhặt”, cùng tả tâm trạng nhân vật vào buổi sáng, Kim Lân đã phát hiện ra sự thay đổi và trưởng thành trong nhận thức, tình cảm và hành động của nhân vật Tràng. Nó không phải quá đột ngột bất ngờ mà nó là một lát cắt trong chuỗi diễn biến tâm trạng đầy ngạc nhiên, có sự thay đổi dần dần của Tràng từ lúc “nhặt” được vợ cho đến cuối truyện.

Qua đó, tác giả có cái nhìn trân trọng, ca ngợi người nông dân dù trong hoàn cảnh hết sức bi đát vẫn có ý thức xây dựng hạnh phúc gia đình. Nhân vật Chí Phèo tuy thức tỉnh để khao khát hoàn lương như cuối cùng rơi vào bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người, còn nhân vật Tràng cuối cùng đã được đổi đời, tìm thấy hạnh phúc đích thực của cuộc đời…

Với Tràng, nhà văn Kim Lân đã xây dựng được một người nông dân với những nét phẩm chất, tính cách, trí tuệ, ngôn ngữ tiêu biểu cho người nông dân Việt Nam. Với Chí Phèo, Nam Cao đã xây dựng được một nhân vật điển hình cho một tầng lớp của xã hội. Đặc biệt, thông qua hai nhân vật này, người đọc cảm nhận được tấm lòng nhân đạo cũng như sự nhìn nhận đa chiều để trân trọng vẻ đẹp con người của hai nhà văn.

Bài văn liên hệ nhân vật Tràng với Chí Phèo ấn tượng mẫu 4

Nam Cao và Kim Lân là hai ngòi bút nổi tiếng và thành công nhất khi viết về đề tài người nông dân trong xã hội cũ, với những nỗi khốn khổ và bất công cùng cực diễn ra trong nhiều số phận con người những năm trước cách mạng. Trong đó nếu như Nam Cao viết về những bi kịch và kết thúc đau thương tiêu biểu là cuộc đời của Chí Phèo, thì Kim Lân lại có cái nhìn tươi sáng và dịu dàng hơn hẳn, ông không quá chú trọng vào vấn đề phản ánh hiện thực mà thay vào đó ông chú tâm đi tìm những vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân trong xã hội cũ, đồng thời gửi gắm reo rắc hy vọng ngay cả trong những hoàn cảnh khốn nạn nhất của xã hội, điều đó có thể nhìn thấy rõ trong tác phẩm Vợ nhặt với nhân vật Tràng. Tuy nhiên dù viết theo xu hướng nào, thì ở cả hai tác phẩm, diễn biến tâm trạng của Chí Phèo và Tràng đều rất đáng chú ý, thể hiện được tài năng riêng của mỗi tác giả.

Ở Vợ nhặt, nhân vật Tràng cũng dính số kiếp của một người nông dân cùng khổ, không ruộng đất, nghèo đói phải chấp nhận tha hương cầu thực, làm dân ngụ cư xứ người chịu nhiều những xa lánh, áp lực. Đặc biệt cuộc đời anh còn phải trải qua một sự kiện khủng khiếp nhất trong lịch sử dân tộc ấy là nạn đói năm 1945, khiến hơn hai triệu đồng bào ta chết đói, và mẹ con Tràng sống những ngày tháng khó nhọc trong những ám ảnh về cảnh người chết như ngả rạ, những người đói dò dẫm như những bóng ma đang chậm rãi tiến về nghĩa địa, mùi tử thi nồng nặc, tiếng quạ kêu thê lương,… Thế nhưng trong hoàn cảnh đó, Tràng vẫn nỗ lực từng ngày để kiếm sống bằng cách đẩy xe bò thuê. Và có lẽ chính sự nỗ lực không ngừng nghỉ của một chàng trai xấu xí, nghèo khó và tồ tệch đã khiến Tràng có được một mối duyên kỳ lạ – Tràng nhặt được vợ. Nói đến sự tích nhặt được vợ của Tràng, trước tiên phải đến sự hào phóng vào rộng lượng của nhân vật này. Tràng và thị biết nhau khi Tràng vô tư hò lên mấy câu cho đỡ mệt rằng “Muốn ăn cơm trắng mấy giò, lại đây mà đẩy xe bò cùng anh”, những tưởng chỉ đùa cho vui vậy mà thị lại đẩy xe cho Tràng thật. Rồi lần thứ hai khi gặp lại, thị đã lập tức sấn đến, cong cớn, sưng sỉa tức giận mắng nhiếc Tràng “Điêu người thế mà điêu!”, cốt để đòi lại cái miếng ăn mà Tràng đã chót hứa. Thế rồi Tràng đã đãi người đàn bà xơ xác, tàn tạ chị còn da bọc xương ngay trước mắt một bữa 4 bát bánh đúc một cách hào phóng rộng lượng, đồng thời không thoát khỏi cái tính hay đùa cợt của mình Tràng lại nửa đùa nửa thật rằng “”Này có theo tớ về thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về”. Ai ngờ thị thế là lại đồng ý theo Tràng thật, từ đó một mối duyên vợ chồng đến từ hai câu đùa, 4 bát bánh đúc đã thành một cách đơn giản và dễ dàng. Có thể nhận thấy rằng, tình cảm ban đầu của Tràng với thị không phải là tình yêu, mà nó là sự đồng cảm giữa con người với nhau, xuất phát từ tấm lòng nhân hậu của chàng trai nghèo khó. Thế nhưng sau khi đã nên duyên vợ chồng, dường như trong lòng Tràng đã đổi khác, từ một con người vô tư thích đùa, Tràng bỗng trở nên cẩn thận, tinh tế và biết quan tâm chăm sóc người khác, anh thấy mình có trách nhiệm phải chăm lo, bảo vệ cho thị, để thị đỡ tủi hổ. Chính vì thế nên Tràng đã dẫn thị vào chợ tỉnh mua cho thị cái thúng con và mấy thứ đồ lặt vặt, lại dẫn thi đi ăn một bữa thật no coi như là mừng đám cưới, đồng thời mua thêm 2 hào dầu thứ vốn được coi là hoang phí lúc bấy giờ để về thắp sáng nhà cửa cho có không khí tân hôn. Ngay lúc ấy người ta thấy Tràng dường như đã lột xác trưởng thành, trở thành người đàn ông của gia đình, ý thức được trách nhiệm với vợ con và tình cảm với thị cũng dần chuyển hóa từ tình cảm thương hại sang tình yêu, tình thân từ lúc nào không hay. Trong lòng Tràng lúc này có những niềm tin, niềm hy vọng sống và khao khát hạnh phúc thật mãnh liệt, nó mạnh mẽ đến mức “trong một lúc Tràng như quên hết những cảnh sống ê chề tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mặt”. Lòng Tràng đang tràn ngập những xúc cảm vui sướng để chờ đón những tháng ngày mới mẻ khi nhà có thêm người, một cuộc sống êm đềm, vợ chồng thuận hòa dường như đang hiện ra trước mắt, vượt lên trên tất cả những đói khổ, cùng cực ngoài kia. Sau đêm tân hôn ta thấy sự thay đổi trong tâm hồn Tràng càng được biểu hiện rõ ràng, “cảnh tượng thật đơn giản bình thường, nhưng đối với hắn thật thấm thía cảm động. Bỗng nhiên hắn thấy thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng”. Anh thấy bừng lên”một nguồn vui sướng đột ngột tràn ngập trong lòng”. Đặc biệt nhất là những suy nghĩ nội tâm đầy trách nhiệm của một người chồng người chủ gia đình khi mà “Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người. Hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”, và ngay khi ý thức thức được điều ấy Tràng đã ngay lập tức có những hành động rất thực tế “hắn chạy xăm xăm ra giữa sân. Hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa căn nhà”. Hơn thế nữa, trong bữa cơm mừng dâu mới, việc thị nhắc đến chuyện người ta cướp kho thóc ở Thái Nguyên, Bắc Giang dường như đã gợi ra trong lòng Tràng những chuyển biến mới, Tràng cảm thấy tiếc nuối khi một dạo trước nhìn thấy người ta kéo nhau đi cướp kho thóc, mà mình lại bỏ qua. Có lẽ rằng, từ giờ trở đi nếu thấy chuyện ấy một lần nữa Tràng sẽ hòa vào đám người kia chăng, hoặc có thể trở thành một trong những người dẫn đầu cho phong trào ấy cũng nên. Việc xây dựng gia đình không chỉ đem đến cho Tràng niềm tin, niềm hy vọng và cuộc sống mà còn cả sức mạnh tinh thần, sự liều lĩnh dám hướng tới một con đường mới tươi sáng hơn khi hình ảnh lá cờ đỏ phấp phới xuất hiện trong suy nghĩ của nhân vật này. Có thể thấy rằng diễn biến tâm trạng của Tràng rất ổn định và luôn diễn tiến theo một xu hướng tích cực, mở ra một tương lai tươi sáng đầy hy vọng, vượt qua mọi khó khăn trắc trở kinh hoàng trong lịch sử.

Trái lại đối với nhân vật Chí Phèo, tâm trạng của nhân vật này có nhiều mâu thuẫn, đồng thời hoàn cảnh của Chí Phèo cũng xuất hiện quá nhiều bi kịch, khiến nhân vật dường như không còn cách giải thoát cũng như không còn một tia sáng hy vọng nào về cuộc đời phía trước. Chí Phèo sinh ra đã là kẻ bất hạnh, bị cha mẹ bỏ rơi, rồi bị truyền tay hết người này đến người khác nuôi, khi đã yên ổn sống khỏe mạnh đến tuổi hai mươi, với những ước mơ khao khát đẹp đẽ về một gia đình nhỏ chồng cày thuê, vợ dệt vải, tậu đất, nuôi heo, thì anh lại bị đẩy vào một bi kịch khác. Chí Phèo lọt vào mắt người vợ ba trắc nết của Bá Kiến, rồi bị tên này ghen tuông đổ vạ tống cổ vào tù đến tận 7, 8 năm. Cái nhà tù thực dân ấy đã biến một chàng trai hiền lành thằng một kẻ lưu manh với ngoại hình gớm ghiếc, đồng thời cướp hết cả tuổi trẻ và sức lực của nhân vật này. Chí Phèo sau ra tù đã quên mất hết những mộng ước ban đầu, hắn không còn muốn làm lại cuộc đời mà thay vào đó là sa đọa trong rượu chè, rạch mặt ăn vạ để đổi lấy tiền uống rượu, sau cùng trở thành con quỷ của làng Vũ Đại khi làm tay sai chuyên đâm thuê chém mướn cho Bá Kiến. Ngày càng trượt dài trên con đường tội lỗi, chấp nhận bán rẻ linh hồn để kiếm mấy đồng lẻ, tiếp diễn những cơn say triền miên đến hàng 15 năm trời. Người ta đâm ra ghê sợ hắn, xa lánh hắn, không ai muốn nói chuyện với Chí Phèo, hắn trở thành con vật “lạ” cô độc và lẻ loi giữa cuộc đời, không nhận được quyền giao tiếp như một con người thực thụ. Điều ấy khiến hắn đau khổ và càng thêm căm hận, bế tắc. Bước ngoặt cuộc đời của Chí đến từ một nhân vật tên là Thị Nở, một người đàn bà xấu ma chê quỷ hờn, họ đã phải duyên phải phận, gặp nhau, ăn nằm với nhau và yêu nhau. Buổi sáng sau đêm định mệnh, Chí Phèo lần đầu tiên tỉnh táo sau gần hai mươi năm đen tối của cuộc đời, hắn nghe được những âm thanh của sự sống, tiếng hót, tiếng người ta nói chuyện với nhau và cả ánh nắng sớm lọt qua căn lều rách. Điều ấy khiến Chí Phèo tỉnh ngộ, hắn đã bước sang ngưỡng bên kia của cuộc đời, thân thể hắn đã tàn tạ lắm rồi, hắn không sợ cái chết nhưng hắn sợ cái cô đơn đằng đẵng trong chặng đường sắp tới. Bát cháo hành của Thị Nở và sự quan tâm chăm sóc từ một người đàn bà mà lần đầu tiên Chí Phèo nhận được đã khiến hắn cảm động, làm sống lại những mong ước của hắn về một gia đình nhỏ êm ấm. Hắn thấy yêu Thị Nở, hắn có niềm tin rằng thị sẽ dẫn hắn về lại thế giới loài người, sẽ cho hắn một cuộc sống khác, không rượu chè, không đâm thuê chém mướn, không còn là con quỷ dữ của làng Vũ Đại nữa. Thế nhưng thật đớn đau làm sao, khi một lần nữa bi kịch bị từ chối quyền làm người lại đổ ập lên đầu Chí, một câu nói cay nghiệt của bà cô Thị Nở đã giết chết tất cả những hy vọng trong hắn “Đàn ông đã chết hết hay sao mà lại đâm đầu đi lấy một thằng không cha. Ai lại đi lấy chồng chỉ có một nghề rạch mặt ăn vạ”. Câu nói ấy đã khiến Chí Phèo rơi vào tuyệt vọng và bế tắc hoàn toàn khi ý thức được rằng xã hội nào đã không còn đường lùi cho hắn nữa, hắn không thể trở về nữa rồi. Hắn căm hận tột cùng cái kẻ đã đẩy mình vào con đường bất lương và chọn cách giải quyết tất cả một cách tiêu cực khi giết Bá Kiến rồi tự tử. Câu nói mà Chí Phèo nói với Bá Kiến khiến người ta không khỏi xót xa và sợ hãi về cái xã hội khốn nạn khi ấy “Không được! Ai cho tao lương thiện!”. Có thể nhận định rằng, tâm trạng và cuộc đời của Chí Phèo là một dạng đồ hình sin đày gập ghềnh và trắc trở, con người ấy đã có những lúc đạt đến tột cùng của hy vọng và khao khát hạnh phúc, nhưng rồi cuối cùng phải chịu cái kết tang thương khi bị đạp rơi xuống hố sâu của tuyệt vọng rồi kết thúc cuộc đời trong đau đớn.

So với Chí Phèo nhân vật Tràng có một cái kết tốt đẹp và viên mãn hơn, bởi lẽ tác giả đã mở ra cho nhân vật của mình những con đường sáng, đồng thời mục đích chính là làm nổi bật những vẻ đẹp tâm hồn đáng quý vượt lên trên mọi hoàn cảnh. Trái lại đối với Chí Phèo, Nam Cao muốn khắc sâu hiện thực xã hội thế nên cái kết bi kịch của nhân vật là một điều tất yếu. Trong đó điểm chung đáng chú ý của hai tác phẩm mà ta cần nhớ ấy là vẻ đẹp của sức sống tiềm tàng, niềm tin, niềm hy vọng sống, khát khao hạnh phúc, tình yêu mãnh liệt trong cuộc đời của cả hai nhân vật.

THPT Nguyễn Trường Tộ xin giới thiệu tới các em bài văn mẫu lớp 12 Cảm nhận tâm trạng của nhân vật Tràng liên hệ tâm trạng Chí Phèo. Hi vọng đây sẽ là tài liệu hữu ích hỗ trợ các em trong quá trình ôn tập và đạt kết quả cao. Mời các em tham khảo thêm các tài liệu khác tại mục Tài liệu học tập lớp 12 do THPT Nguyễn Trường Tộ tổng hợp và đăng tải như: Trắc nghiệm Tiếng Anh 12, Trắc nghiệm Hóa học 12, Trắc nghiệm Sinh học 12,…

Đăng bởi: THPT Nguyễn Trường Tộ

Chuyên mục: Giáo dục,Lớp 12

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button