Giáo dụcLớp 12

Dàn ý phân tích hình tượng người lính qua 8 câu thơ: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc … Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Dàn ý phân tích hình tượng người lính qua 8 câu thơ: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc … Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Văn mẫu lớp 12: Dàn ý phân tích hình tượng người lính trong khổ 3: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc … Sông Mã gầm lên khúc độc hành gồm các bài văn mẫu hay cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham khảo.

Dàn ý Hình tượng người lính tây tiến trong khổ 3

1. Mở bài

Giới thiệu nhà thơ Quang Dũng, bài thơ Tây Tiến và dẫn dắt vào đoạn thơ.

Bạn đang xem: Dàn ý phân tích hình tượng người lính qua 8 câu thơ: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc … Sông Mã gầm lên khúc độc hành

2. Thân bài

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu mắt giữ oai hùm.”

Căn bệnh sốt rét rừng làm cho da của người lính xanh xao, beo bủng như lá cây và rụng hết tóc. Tuy nhiên họ vẫn làm chủ tình thế, vẫn oai phong lẫm liệt. Chính màu xanh đó cũng giúp họ ngụy trang để chiến đấu với quân thù.

“giữ oai hùm” hoàn cảnh thiếu thốn, khắc nghiệt như thế nhưng họ vẫn giữ vững tinh thần chiến đấu, vẫn giữ nguyên được vẻ oai phong lẫm liệt.

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.”

“mắt trừng”: lòng căm thù giặc sâu sắc. Ở họ là sự khát khao giành chiến thắng, gửi những giấc mộng đẹp, những ước mơ đẹp về nơi quê hương yêu dấu của mình.

Trái tim rạo rực yêu thương: tuy chiến đấu gian khổ nhưng những người lính vẫn luôn nhớ về quê nhà, về nơi có người con gái mà họ yêu thương, nhớ nhung. Ban ngày hết lòng chiến đấu, đêm đến ôm nỗi nhớ vào giấc mộng.

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”

Nhìn thẳng vào sự thật tàn khốc: nhiều người lính đã ngã xuống.

Họ là những người lính trẻ tuổi, cuộc đời còn dài tuy nhiên họ đã quyết định ra đi, hi sinh tương lai, tuổi xuân của mình vì độc lập tự do của tổ quốc.

“Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Khi người chiến sĩ hi sinh, họ chỉ được bọc trong manh chiếu rách để chôn cất nhưng sự ra đi vì vinh quang đó được ví như mặc áo long bào → thể hiện sự tôn vinh.

Sự ra đi đó làm cả núi sông, đất trời lên tiếng như một lời tiễn biệt đồng thời thể hiện sự phẫn nỗ, căm hờn trước tội ác của kẻ thù.

→ Sự hi sinh vì lí tưởng cao đẹp của người lính đáng tự hào, tôn vinh. Họ mang vẻ đẹp lãng mạn và bi tráng, hào hùng, lẫm liệt.

3. Kết bài

Khẳng định lại giá trị của đoạn thơ nói riêng và bài thơ nói chung.

Tây tiến

Dàn ý phân tích hình tượng người lính qua 8 câu thơ: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc … Sông Mã gầm lên khúc độc hành – Bài làm 2

Mở bài: Giới thiệu về 8 câu thơ cuối bài thơ Tây Tiến.

Thân bài:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Nhà thơ Quang Dũng gọi tên binh đoàn của mình bằng tên gọi khá thú vị “đoàn binh không mọc tóc”. Thật thú vị khi những con người ấy lại lấy chính hiện thực gian khổ khốc liệt để biến thành niềm kiêu hãnh và tự tôn cho chính mình. Nhà thơ Phạm Tiến Duật cũng đã từng gọi tiểu đội của mình bằng cái tên bắt nguồn từ hiện thực thiếu thốn khắc nghiệt “tiểu đội xe không kính”, qua đó ta thấy được tinh thần lạc quan và chất lính dí dỏm hài hước. Câu thơ thứ hai tạo ra hai vế đối lập: “quân xanh màu lá”với “dữ oai hùm”, một bên là cái thiếu thốn khó khăn gian khổ, một bên là khí phách anh hùng của những người lính Tây Tiến.

Ba tiếng “dữ oai hùm” tạo nên một âm hưởng mạnh mẽ hùng tráng cho câu thơ, người đọc cảm nhận được khí thế của đoàn quân ra trận, câu thơ ngắt nhịp mạnh tô đậm nét hùng dũng. Những người lính Tây Tiến cũng là những người lắm mộng nhiều mơ, những người giàu khát vọng hoài bão. Đến đây nhà thơ đã tạo ra nét vẽ chân thực về hình ảnh người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Hai câu thơ đã nhấn mạnh chữ “mộng” và “mơ”. Từ “trừng” được dùng khá đặc sắc, nó cho thấy bao nhiêu tâm nguyện, bao nhiêu khát vọng hoài bão tự đáy lòng đều dâng cả lên trên ánh mắt. “Mắt trừng” chỉ một hành động mạnh, nhưng không phái là trừng trị, dọa nạt mà là cái nhìn đau đáu, khôn nguôi thể hiện những nhung nhớ, ước ao đến khắc khoải. Chữ “mộng” khiến cho câu thơ như bị trùng xuống, ẩn chứa xúc cảm bâng khuâng. Câu thơ của Quang Dũng gợi nhắc người đọc tới một câu thơ của Nguyền Đình Thi: “Những đêm dài hành quân nung nấu – Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”.

Nỗi nhớ người yêu, nhớ “dáng kiều thơm” nào đó thật đời thường, bình dị nhưng cũng thật cao quý. Nó khiến cho hình ảnh người lính trở nên chân thực gần gũi hơn. Nỗi nhớ ấy trong hành trang của họ như tiếp thêm sức mạnh nghị lực để chiến đấu và chiến thắng, nó như một điểm tựa vững chắc cho những thanh niên học sinh Hà Nội rời ghế nhà trường tham gia chiến trận – những con người “lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa”.

– Những người lính Tây Tiến sống anh hùng mà chết cùng anh hùng:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đì chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Cái độc đáo là nhà thơ viết về sự ra đi của họ nhưng không tô đậm sự sầu thương bị lụy, sự ai oán não nùng mà nhấn mạnh dũng khí hùng tráng, khí phách anh hùng. Sau những câu thơ rắn rỏi, đẹp đẽ đến đây âm điệu câu thơ chợt trầm và trùng xuống, nó giống như một thước phim quay chậm.

Còn gì thiêng liêng và cao cả hơn sự hi sinh, sự chấp nhận gian khổ của người lính. Trên đường hành quân người chiến sĩ Tây Tiến gặp biết bao mồ viễn xứ của những kẻ chết xa quê. Nhưng những người chiến sĩ của chúng ta nhìn với ánh mắt bình thản bởi họ chấp nhận điều đó. Nếu câu thứ nhất tô đậm cái “Bi” thì câu thứ hai tô đậm nét “Tráng”, “Hùng”. Câu thơ thứ hai giống như một cái hất đầu ngạo nghễ của anh lính Tây Tiến: bất chấp khó khăn, bỏ mặc chết chóc hiểm nguy cận kề, những người lính Tây Tiến vẫn kiên định trong ý chí, dũng cảm trong hành động, ngạo nghễ trong khí phách người anh hùng.

→ Tác giả mượn hình ảnh “áo bào” để gợi tả sự ra đi của những người lính. Đặc biệt nó còn gắn với hình ảnh thiêng liêng và tạo ra sắc thái trang trọng, giảm bớt nỗi buồn thương bi lụy. Nó tạo ra một hình ảnh hết sức cảm động, giống như một sự sẻ chia đồng cảm của tác giả đối với những người lính Tây Tiến. Câu thơ tiếp lại xuất hiện hình ảnh sông Mã – chứng nhân của lịch sử.

→ Sông Mã tấu lên “khúc độc hành” – khúc ca đơn độc buồn thương. Chữ “gầm” – biện pháp nhân hóa, nỗi nhớ thương của lòng người như hóa thân vào nỗi nhớ thương của dòng sông hay dòng sông ấy đang chở đi những khúc ca đau đớn của con người. “Anh về đất” là hóa thân cho dáng hình xứ sở, thực hiện xong nghĩa vụ quang vinh của mình. Tiếng gầm của sông Mã về xuôi như loạt đại bác rền vang, vĩnh biệt người con yêu dấu của giống nòi.

Kết bài: “Tây Tiến là một tượng đài bất tử về người lính vô danh” – bất tử bởi chính những vẻ đẹp hào hoa, hào hùng bi tráng. Vì vậy, người lính Tây Tiến qua bài thơ cùng tên của Quang Dũng sẽ sống mãi trong cõi vĩnh hằng và trong thế giới nhân sinh.

Dàn ý phân tích hình tượng người lính qua 8 câu thơ: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc … Sông Mã gầm lên khúc độc hành – Bài làm 3

1. Mở bài

Nêu trường hợp sáng tác của bài thơ.

Dẫn vào đoạn thơ: phản ánh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nhiều gian khổ hi sinh, đậm nét bi hùng, vừa thể hiện tâm tình riêng của những người lính trẻ, qua nghệ thuật thơ độc đáo.

2. Thân bài

a. Chân dung người lính Tây Tiến

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Bằng bút pháp lãng mạn, tác giả tô đậm chân dung người lính Tây Tiến. Diện mạo người chiến sĩ thật khác thường (không mọc tóc, xanh màu lá, dữ oai hùm, mắt trừng…) nhưng lẫm liệt oai phong như hình ảnh người chinh phụ trong thơ cổ.

Lam sơn chướng khi đã hành hạ họ: bệnh sót rét làm tóc họ rụng dần. “Đánh trận, tử vong ít, sốt rét, tử vong nhiều (…). Bệnh thì ghê thế, mà thuốc thì rất hiếm” (Trần Lê Văn). Cho nên quân xanh màu lá vì màu da của người chiến sĩ xanh lướt do bệnh sốt rét rừng hoành hành.

Vốn xuất thân từ tầng lớp tiểu tư sản Hà Nội, tâm hồn người lính Tây Tiến rất lãng mạn, hào hoa:

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Người đọc xúc động và hoàn toàn cảm thông tâm tinh chân thực của những người lính trẻ đang ghì chặt tay súng ở chiến trường nhưng vẫn thả hồn mơ bóng giai nhân.

b. Khúc ca bi tráng

Không chỉ lãng mạn trong tâm hồn, người lính Tây Tiến còn lãng mạn trong quan niệm chiến đấu. Những chàng trai trẻ đã tự nguyện dấn thân, hăng hái chiến đấu với khí thế hào hùng: “Như trận Dốc Đẹ (trên đường phố Vàng sang Mường Bi), có những chiến sĩ sốt rét run cầm cập vẫn nằm nguyên ở vị trí chiến đấu, bắn súng, ném lựu đạn, vần đá từ trên cao xuống, tiêu diệt nhiều tên địch. Bọn giặc phải rút lui xuống Suối Kút (Trần Lê Văn).

Biết bao thanh niên đã dấn thân như thế, đúng với tên “Tây Tiến”, họ vẫn hăng hái tiến về miền Tây, giáp biên giới Việt – Lào để tiêu hao lực lượng địch, dù có trông thấy những nấm mồ viễn xứ nằm rải rác biên cương và biết rằng phút này họ còn tồn tại nhưng có thể phút sau trở thành hư vô:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất

Giọng thơ bi tráng, lời thơ trang trọng. Cái chết của người chiến sĩ Tây Tiến thật đẹp. Thiên nhiên hùng vĩ như trân trọng tấu lên khúc nhạc trầm hùng tiễn đưa những chàng trai trẻ hi sinh vì tổ quốc:

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Đoạn thơ như gợi nhớ đến hình ảnh người chinh phụ thời xưa:

Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao

(Chinh phụ ngâm khúc)

c. Nỗi nhớ bâng khuâng

Với những kỉ niệm sâu sắc về một thời chiến đấu đầy gian khổ, hi sinh, người lính Tây Tiến luôn gắn bó với miền Tây Bắc Bộ của Tổ quốc, dù đường lên thăm thẳm nhưng vẫn hồn về Sầm Nứa.

Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

3. Kết bài

Hơn năm mươi năm qua, bài thơ Tây Tiến vẫn còn sức quyến rũ đối với người đọc hôm nay, gợi về những năm tháng không thể nào quên trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp.

Bằng bút pháp vừa hiện thực vừa lãng mạn, Quang Dũng đã dựng lên được hình tượng vô cùng đẹp đẽ về người lính Tây Tiến với hào khí ngất trời trong chiến đấu và nét hào hoa lãng mạn trong tâm hồn.

Khái quát về tác giả Quang Dũng

1. Tiểu sử tác giả Quang Dũng

Quang Dũng (1921 – 1988) có tên khai sinh là Bùi Đình Diệm. Quê ở làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, Hà Tây (nay thuộc Hà Nội).

Trước năm 1945 Quang Dũng dạy học ở Sơn Tây, Hà Nội. Ông gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam vào ngày Cách mạng tháng Tám thành công, trở thành phóng viên tiền phương của báo Chiến đấu, sau năm 1954 ông làm biên tập ở Nhà xuất bản Văn học.

Ông mất ngày 13 tháng 10 năm 1988 sau một thời gian dài đau ốm tại bệnh viện Thanh Nhàn, Hà Nội.

Năm 2001, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

2. Sự nghiệp văn học Quang Dũng

Quang Dũng là thế hệ thơ tài năng, trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp. Ông vẽ tranh, sáng tác nhạc, viết văn xuôi nhưng trước hết là một nhà thơ.

Trước năm 1945, Quang Dũng đã làm thơ, nhưng thơ ông thực sự được biết đến rộng rãi là từ bài thơ Tây Tiến (1948) và một số bài khác viết trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp.

Phong cách sáng tác: Quang Dũng là một nhà thơ mang hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa.

Tác phẩm chính: Mây đầu ô (thơ, 1986), Thơ văn Quang Dũng (tuyển thơ văn, 1988), Rừng biển quê hương (tập thơ, văn, in chung với Trần Lê Văn, 1957),…

Thơ đã được phổ nhạc: Tây Tiến (Phạm Duy), Đôi mắt người Sơn Tây (Phạm Đình Chương phổ từ hai bài thơ Đôi bờ và Đôi mắt người Sơn Tây), Kẻ ở (Cung Tiến), Bài thơ “Không đề” được 4 nhạc sĩ Việt Dũng, Phạm Trọng Cầu, Khúc Dương, Quang Vĩnh, phổ nhạc.

Đôi nét về bài thơ Tây Tiến

1. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ Tây Tiến

Tây Tiến là đơn vị bộ đội thành lập năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt – Lào, địa bàn hoạt động suốt miền núi Tây Bắc. Quang Dũng tham gia đoàn quân với chức vụ đại đội trưởng. Những người lính chiến đấu trong những hoàn cảnh gian khổ nhưng các anh vẫn phơi phới tinh thần lạc quan anh hùng.

Cuối năm 1948 Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác công tác. Khi dự hội nghị toàn quân ở Phù Lưu Chanh tác giả bồi hồi nhớ lại những kỉ niệm kháng chiến cùng đồng đội ở đơn vị cũ trong những tháng năm ở miền biên cương Tây Bắc. Những ngày tháng gian khổ mà hào hùng ấy đã giúp nhà thơ viết nên bài “Tây Tiến”.

Bài thơ ban đầu có tựa đề “Nhớ Tây Tiến” in trong tập thơ “Mây Đầu Ô”.

2. Giá trị nội dung bài thơ Tây Tiến

Với cảm hứng lãng mạn và ngòi bút tài hoa, Quang Dũng đã khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến hào hùng, hào hoa và vẻ đẹp hùng vĩ thơ mộng của thiên nhiên miền Tây tổ quốc.

Cả bài thơ là nỗi nhớ da diết của nhà thơ đối với đơn vị Tây Tiến.

3. Giá trị nghệ thuật bài thơ Tây Tiến

Bút pháp hiện thực kết hợp lãng mạn, đậm chất bi tráng.

Nhiều sáng tạo về hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu: Hình ảnh thơ sáng tạo mang sắc thái thẩm mĩ phong phú; ngôn ngữ thơ đa sắc thái, phong cách; giọng điệu khi tha thiết bồi hồi, khi hồn nhiên vui tươi, khi bâng khuâng man mác, khi trang trọng, khi trầm lắng…

Cảm nhận, phân tích khổ 3 bài thơ Tây Tiến

    Trên đây THPT Nguyễn Trường Tộ hướng dẫn các bạn học tốt bài Văn mẫu lớp 12: Dàn ý phân tích hình tượng người lính qua 8 câu thơ: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc … Sông Mã gầm lên khúc độc hành. Ngoài ra các bạn có thể soạn bài Ngữ văn 12 được THPT Nguyễn Trường Tộ sưu tầm, chọn lọc để học tốt môn Ngữ văn 12.

    Bài tiếp theo: Em hãy bày tỏ suy nghĩ của mình về hiện tượng lạm dụng tình dục trẻ em

    Đăng bởi: THPT Nguyễn Trường Tộ

    Chuyên mục: Giáo dục,Lớp 12

    Trả lời

    Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

    Back to top button